Home   Diễn đàn   Thi trực tuyến   Tin học   Ngọai ngữ   Sách   Giải trí   Đăng ký   Đăng nhập   Quên mật khẩu   Về thư viện   Liên lạc   Mời bạn bè
Không phân biệt chính kiến. Phản biện để tiến bộ. Dân chủ để thịnh vượng!
  
 [Mật khẩu?]
 [Đăng ký]
    Tìm kiếm nhanh: trong:  
  Welcome, Khách. GMT: Saturday, Aug 30th, 2014.   Local:
 Thành viên mới  Online  Thành viên tích cực  Bài mới  Xem nhiều nhất  Phản hồi  Tìm bài  Bạn bè  
Trang nhà Trang nhà > Tin tức > Di Trú - Bảo Lãnh   Bài đăng mới Bài đăng mới RSS: Bảo lãnh thân nhân - Mẫu đơn I-130
  Hỗ trợ Hỗ trợ  Lịch   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập
    Di Trú - Bảo Lãnh:
Bảo lãnh thân nhân - Mẫu đơn I-130
Người đăng:
nguoivienxu Click để xem
Administrator Group
Administrator Group
Avatar


Tham gia: 15 Dec 2010
Tình trạng trực tuyến: Tắt
Bài : 3489
Tùy chọn bài đăng Tùy chọn bài đăng   Trích dẫn nguoivienxu Trích dẫn  Phản hồiPhúc đáp Direct Link To This Post Đề tài: Bảo lãnh thân nhân - Mẫu đơn I-130
    Thời gian đăng: 06 Jan 2012 lúc 4:08am

 Bảo lãnh thân nhân - Mẫu đơn I-130

 

Mẫu đơn I-130 là một mẫu đơn thông dụng nhất và là mẫu đơn dùng để làm đơn bảo lãnh cho thân nhân. Bảo lãnh theo diện thân nhân gồm có 2 loại. Loại thứ nhất là Immediate Relative và loại thứ hai là Family Based Preference.

1. Loại thứ nhất là Diện Immediate Relative là diện bảo lãnh cho vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Hoa Kỳ, và diện này là diện bảo lãnh thân nhân mau nhất so với những diện bảo lãnh thân nhân khác.

2. Loại thứ hai là Family Based Preference được chia ra làm 5 Preferences (tức là 5 ưu tiên).

- Ưu tiên 1 được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.

- Ưu tiên 2A được dành cho vợ, chồng, hoặc con cái dưới 21 tuổi của thường trú nhân.

- Ưu tiên 2B được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của thường trú nhân.

- Ưu tiên 3 được dành cho những người con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.

- Ưu tiên 4 được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.

Bảo lãnh thân nhân được chia ra làm hai phần (đoạn).

Phần thứ nhất là nộp đơn I-130 cùng với những dự kiện cần thiết đến Sở Di Trú. Sở Di Trú chỉ xem xét hồ sơ có hội đủ dự kiện chứng minh sự liên hệ gia đình để được bảo lãnh hay không. Ðơn I-130 được chấp thuận không có nghĩa là "người thừa hưởng" được cấp chiếu khán. Ðơn I-130 được chấp thuận có nghĩa là những dự kiện nộp vào chứng minh rằng "người thừa hưởng" là thân nhân được định nghĩa dưới những điều luật di trú và họ có thể làm đơn xin chiếu khán di dân.

Phần thứ hai là sau khi đơn I-130 được chấp thuận, hồ sơ được chuyển qua cho Lãnh Sự Hoa Kỳ để giải quyết cấp chiếu khán. Sự việc của Lãnh Sự Hoa Kỳ là xem xét sự liên hệ gia đình có thật sự như đã trình bày theo giấy tờ và "người thừa hưởng" có lọt vào một trong những điều luật cấm nhập cảnh hay không. Nếu bị lọt vào một trong những điều luật cấm nhập cảnh, hồ sơ xin chiếu khán sẽ bị từ chối ngoại trừ hội đủ điều kiện miễn trừ.

Khi nộp đơn I-130 vào Sở Di Trú, đơn I-130 phải được kèm theo những dự kiện để chứng minh sự liên hệ gia đình. Những giấy tờ cần thiết thứ nhất là khai sanh của "người thừa hưởng". Dù rằng khai sanh không cần thiết để chứng minh sự liên hệ gia đình. Sở Di Trú muốn khai sanh của "người thừa hưởng" để Sở Di Trú biết rõ thân thế của "người thừa hưởng". Ðiển hình là bảo lãnh theo diện phối ngẫu, khai sanh của người thừa hưởng không cần thiết để chứng minh sự liên hệ vợ chồng của hai người, nhưng khai sanh của "người thừa hưởng" phải được nộp chung với đơn I-130 vì Sở Di Trú muốn biết thân thế của "người thừa hưởng".

Giấy tờ cần thiết thứ nhì là bằng quốc tịch Hoa Kỳ, hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc thẻ xanh của "người bảo lãnh". Những giấy tờ đó dùng để chứng minh "người bảo lãnh" là công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân. Vì chỉ có công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân mới được bảo lãnh cho thân nhân.

Giấy tờ cần thiết thứ ba là khai sanh và hôn thú. Vấn đề này hơi phức tạp vì luật di trú có phân tích vấn đề liên hệ cha con mà không phân tích vấn đề liên hệ mẹ con.

Trong trường hợp bảo lãnh cho anh chị em cùng mẹ (hoặc cùng cha và mẹ) thì phải có khai sanh của "người bảo lãnh" và "người thừa hưởng". Khai sanh của hai người sẽ được dùng để chứng minh rằng hai người có cùng một người mẹ. Trong trường hợp cùng mẹ khác cha, giấy tờ chứng minh sự liên hệ gia đình cũng chỉ cần khai sanh của "người bảo lãnh" và "người thừa hưởng".

Mời quí bạn đọc theo dõi tiếp theo những dự kiện cần thiết nộp chung với đơn bảo lãnh thân nhân I-130, cũng trong mục di trú do Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương phụ trách, trên số báo Người Việt Chủ Nhật tuần tới, với đề tài "Bảo Lãnh Thân Nhân - Mẫu Ðơn I-130 - Phần II".


Như tôi đã trình bày vào kỳ trước, những giấy tờ cần thiết để bảo lãnh thân nhân và nêu lên những trường hợp điển hình bảo lãnh cho Anh, Chị, Em cùng Mẹ (hoặc cùng Cha và Mẹ), kỳ này tôi sẽ nêu lên thêm vài trường hợp điển hình khác và những giấy tờ cần thiết cần phải nộp chung với đơn I-130.

Trong trường hợp Con bảo lãnh cho Mẹ thì phải có bằng quốc tịch của người Con, khai sanh của người Con và khai sanh của người Mẹ. Trong trường hợp này, bằng quốc tịch của người Con phải được nộp với đơn I-130 vì chỉ có Con là công dân Hoa Kỳ mới có quyền bảo lãnh cho Cha Mẹ. Khai sanh của người Con được dùng để chứng minh sự liên hệ Mẹ Con và khai sanh của người Mẹ được dùng để chứng minh thân thế của "người thừa hưởng" tức là người Mẹ.

Trong trường hợp Mẹ bảo lãnh cho Con (độc thân hay có gia đình). Nộp theo đơn I-130 phải có bản sao của thẻ xanh hoặc bằng quốc tịch Hoa Kỳ của người Mẹ và khai sanh của người Con. Quí bạn đọc nên lưu ý trong trường hợp Mẹ bảo lãnh cho Con có gia đình, người Mẹ phải có bằng quốc tịch mới được bảo lãnh vì thường trú nhân không được bảo lãnh cho Con đã có gia đình. Khai sanh của người Con được dùng để chứng minh sự liên hệ gia đình và thân thế của "người thừa hưởng."

Trong trường hợp Con bảo lãnh cho Cha hoặc Cha bảo lãnh cho Con thì phức tạp hơn những diện bảo lãnh thân nhân khác. Luật di trú phân tích sự liên hệ Cha Con tùy thuộc vào Con trong giá thú hay Con ngoài giá thú. Nếu là Con trong giá thú, thì ngoài những giấy tờ nêu trên giống trong trường hợp Con bảo lãnh cho Mẹ hoặc Mẹ bảo lãnh cho Con, và cần phải có thêm hôn thú của Cha Mẹ để chứng minh lúc người con sanh ra Cha Mẹ của họ có hôn thú. Nếu là Con ngoài giá thú, thì có hai cách để chứng minh là Con. Cách thứ nhất là Cha Con có sự quan hệ Cha Con chân thật trước khi người Con trở thành 21 tuổi. Cách thứ hai là người Con đã được hợp pháp hóa thành Con trước khi người Con trở thành 18 tuổi.

Cách thứ nhất là Cha Con có sự quan hệ Cha Con chân thật. Quan hệ đó có thể chứng minh rằng người Cha có lo lắng cho Con về mặt tài chánh và dạy dỗ. Ðiển hình là người Cha gởi tiền cho người Con hoặc thư từ qua lại trước khi người Con trở thành 21 tuổi.

Cách thứ hai là người Con đã được hợp pháp hóa thành Con. Hợp pháp hóa bằng cách người Cha và người Mẹ lập hôn thú hoặc có phán quyết của tòa. Sự hợp pháp hóa Cha Con phải được xảy ra trước khi người Con trở thành 18 tuổi.

Quí bạn đọc nên lưu ý, những điển hình nêu trên chỉ là một vài điển hình chứng minh sự quan hệ Cha Con chân thật hoặc người Con đã được hợp pháp hóa. Ngoài ra còn nhiều cách khác để chứng minh một trong hai điều nêu trên. Quí vị nên liên lạc với một người luật sư am tường về luật di trú của quí vị để tham khảo tường tận những phương cách hội đủ điều kiện để bảo lãnh cho thân nhân.

Mời quí bạn đọc theo dõi tiếp theo những dự kiện cần thiết nộp chung với đơn bảo lãnh thân nhân I-130, cũng trong mục di trú do Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương phụ trách, trên số báo Người Việt Chủ Nhật tuần tới, với đề tài "Bảo Lãnh Thân Nhân - Mẫu Ðơn I-130 - Phần III."


Như tôi đã trình bày vào những kỳ trước, những giấy tờ cần thiết để bảo lãnh thân nhân và nêu lên những trường hợp điển hình bảo lãnh cho Anh, Chị, Em cùng Mẹ (hoặc cùng Cha và Mẹ), Con bảo lãnh cho Mẹ hoặc Mẹ bảo lãnh cho Con, và Con bảo lãnh cho Cha hoặc Cha bảo lãnh cho Con.

Kỳ này tôi sẽ nêu lên thêm vài trường hợp điển hình khác và những giấy tờ cần thiết cần phải nộp chung với đơn I-130.

Trong trường hợp bảo lãnh diện Vợ Chồng, những giấy tờ cần thiết phải nộp chung với đơn I-130 gồm có:

1. Hôn thú và giấy ly dị (nếu có);

2. Khai sanh của "người thừa hưởng;"

3. Giấy tờ chứng minh "người bảo lãnh" là thường trú nhân hoặc công dân Hoa Kỳ;

4. Một tấm hình 2x2 của "người bảo lãnh" và "người thừa hưởng;" và

5. Ðơn G-325A của "người bảo lãnh" và "người thừa hưởng."

Hôn thú được dùng để chứng minh sự liên hệ Vợ Chồng. Hôn thú phải có giá trị luật pháp theo luật của nơi "người bảo lãnh" hoặc "người thừa hưởng" ở và hôn nhân đó không trái với public policy (tức là chính sách chung) của Hoa Kỳ. Nếu "người bảo lãnh" hoặc "người thừa hưởng" trước đây đã có hôn thú với người khác, phán quyết ly dị phải được nộp chung với đơn I-130. Phán quyết ly dị được dùng để chứng minh hôn thú của hai Vợ Chồng có giá trị luật pháp. Vì nếu "người bảo lãnh" hoặc "người thừa hưởng" đã có hôn thú với người khác trước đây và chưa ly dị thì hôn thú sau này của "người bảo lãnh" và "người thừa hưởng" không có giá trị luật pháp.

Khai sanh của "người thừa hưởng" được dùng để chứng minh thân thế của "người thừa hưởng."

"Người bảo lãnh" có thể nộp thẻ xanh, bằng quốc tịch Hoa Kỳ, hộ chiếu Hoa Kỳ, hoặc khai sanh (nếu họ được sanh ra tại Hoa Kỳ) để chứng minh họ là thường trú nhân hoặc công dân Hoa Kỳ.

Trong các hồ sơ bảo lãnh thân nhân, chỉ có diện bảo lãnh Vợ Chồng là phải kèm theo một tấm hình 2x2 của "người bảo lãnh," một tấm hình 2x2 của "người thừa hưởng," đơn G-325A của "người bảo lãnh" và đơn G-325A của"người thừa hưởng."

Quí bạn đọc nên lưu ý, khi Sở Di Trú chấp thuận đơn I-130 có nghĩa là dựa theo luật di trú "người bảo lãnh" hội đủ điều kiện để bảo lãnh cho "người thừa hưởng." Sự chấp thuận đó không có nghĩa là Sở Di Trú quyết định rằng sự liên hệ gia đình là chân thật. Sự quyết định liên hệ gia đình là chân thật hay không là do lãnh sự Hoa Kỳ. Ngoài ra lãnh sự Hoa Kỳ còn quyết định rằng "người thừa hưởng" có lọt vào một trong những điều luật cấm nhập cảnh Hoa Kỳ hay không.


Mẫu đơn I-864 - "Bảo trợ tài chánh"

Một trong những lý do để một người bị từ chối chiếu khán nhập cảnh thường trú (Immigrant Visa) hoặc đơn thay đổi tình trạng di trú (Adjustment of Status) là Public Charge (tức là gánh nặng cho chính phủ Hoa Kỳ). Dựa theo lý do Public Charge, Sở Di Trú Hoa Kỳ hoặc lãnh sự Hoa Kỳ cho rằng đương đơn sẽ trở thành gánh nặng cho chính phủ Hoa Kỳ sau khi đương đơn nhập cảnh Hoa Kỳ.

Ðể tránh bị từ chối nhập cảnh Hoa Kỳ vì lý do Public Charge, mẫu đơn bảo trợ tài chánh (mẫu I-864), phải được làm đúng luật, đúng sự đòi hỏi của Sở Di Trú. Ðơn bảo trợ tài chánh phải được thi hành bởi người nộp đơn như một khế ước.

Thứ nhất - Ðơn bảo trợ tài chánh phải được thi hành bằng phương cách luật định, người bảo trợ phải trên 18 tuổi, và người bảo trợ phải là người nộp đơn bảo lãnh thân nhân. Lý do người bảo trợ phải trên 18 tuổi vì khế ước với một người dưới 18 tuổi không có giá trị luật pháp.

Thứ nhì - Người bảo trợ phải đồng ý phục tùng theo thẩm quyền của bất cứ những tòa liên bang hay tòa tiểu bang, tức là người bảo trợ phải là công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân, và người bảo trợ phải cư ngụ tại Hoa Kỳ.

Thứ ba - người bảo trợ phải đồng ý bảo trợ cho người được bảo lãnh, và phải chứng minh là mình có khả năng tài chánh để bảo tồn và duy trì số tiền lợi tức mỗi năm ít nhất là 125% của Federal Poverty Guideline.

 

Ðể chứng minh khả năng tài chánh, bảo tồn và duy trì số tiền lợi tức mỗi năm:

Người bảo trợ phải cung cấp những giấy tờ thuế của 1 năm vừa qua.

Người bảo trợ có thể chứng minh khả năng về số tiền lợi tức bằng những chứng minh tài sản của mình, hoặc của người được bảo lãnh, và những tài sản đó được sẵn sàng dùng để bảo trợ cho người được bảo lãnh. Sự đòi hỏi của lợi tức cho mỗi $1,000 thì người bảo trợ hoặc người được bảo trợ phải thay thế bằng tài sản có sẵn trị giá: $5,000. Những tài sản nào có thể chuyển thành tiền mặt trong vòng một thời gian ngắn có thể dùng để chứng minh. Ðiển hình là cha bảo lãnh cho con, lợi tức của người cha cho năm 2010 là $12,000. Theo mức quy định của lợi tức cho 2 người (người bảo lãnh và người được bảo lãnh) của năm 2011 là $18,387. Mức lợi tức của người cha thiếu $6,387. Người cha có thể thế bằng số tiền $31,935 (6,387x5) trong trương mục.

Nếu như người bảo trợ không hội đủ được những điều kiện cần thiết trình bày trên, người bảo trợ có thể nộp thêm đơn Affidavit of Support của một co-sponsor (tức là người bảo trợ phụ). Những trường hợp người bảo trợ không hội đủ điều kiện là người bảo trợ đang lãnh tiền trợ cấp của chính phủ như SSI, welfare, v.v... Người bảo trợ phụ phải hội đủ năm điều kiện:

(1) Ðiều kiện thứ nhất: Người bảo trợ phụ phải chấp nhận trách nhiệm của người bảo trợ chính, và nếu như trong trường hợp người bảo trợ chính không hoàn thành trách nhiệm sau này, thì người bảo trợ phụ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

(2) Ðiều kiện thứ nhì: Người bảo trợ phụ cũng phải trên 18 tuổi.

(3) Ðiều kiện thứ ba: Người bảo trợ phụ phải có quốc tịch Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân.

(4) Ðiều kiện thứ tư: Người bảo trợ phụ phải cư ngụ tại Hoa Kỳ.

(5) Ðiều kiện thứ năm: người bảo trợ phụ phải đồng ý bảo trợ cho người được bảo lãnh, và phải chứng minh mình có khả năng tài chánh để bảo tồn và duy trì số tiền lợi tức mỗi năm. Số tiền đó phải bằng ít nhất là 125% của Federal Poverty Guideline.

---------------------------

Ghi chú: Ðể am tường về việc nhập cảnh Hoa Kỳ đầy phức tạp, mời quý vị đón đọc mỗi tuần mục "Tìm Hiểu Luật Di Trú" và mục "Giải Ðáp Thắc Mắc" trên nhật báo Người Việt phát hành ngày Thứ Hai ở trang Ðịa Phương, do Luật Sư Di Trú Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách.

Mọi thắc mắc xin liên lạc: Luật Sư Darren C. N. Nguyen hoặc Luật Sư Thuong T.C. Luu của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP địa chỉ số 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Website www.NguyenLuu.com. Ðiện thoại (949) 878-9888.



Biên tập bởi: nguoivienxu - 06 Jan 2012 lúc 4:09am


  Reply Phản hồi   New Topic Thêm đề tài    Lên đầu trang
Viên sỏi lót đường
  Di Trú - Bảo Lãnh [Xem thêm]
Đến Diễn đàn Quyền hạn diễn đàn Click để xem
Trang này tải về trong 0.109 giây .
Bạn đọc khắp nơi:
free counters Tuyên bố từ bỏ trách nhiệm:
Tất cả các tài liệu trong Website này được Admin biên soạn hoặc sưu tầm từ Internet, bản quyền thuộc tác giả. Thư viện IT chỉ lưu trữ để học tập và tham khảo. Chúng tôi hoàn toàn không bảo đảm tính chính xác của nội dung và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về bất kỳ nội dung nào. Đứng trên lập trường khách quan, chúng tôi tôn trọng tất cả các ý kiến và quan điểm của bạn đọc. Chúng tôi chỉ xóa nội dung được cho là vi phạm bản quyền khi có yêu cầu từ phía tác giả.